tác phẩm lớp 10

Tác giả tác phẩm Ngữ văn lớp 10 Kết nối tri thức hay, chọn lọc. Tải app VietJack. Xem lời giải nhanh hơn! Trang trước Trang sau. Với tác giả, tác phẩm Ngữ văn lớp 10 hay nhất, chi tiết sách Kết nối tri thức trình bày đầy đủ nội dung chính quan trọng nhất về tác phẩm. Soạn văn 10 (hay nhất) Tác giả - tác phẩm: Mùa xuân chín - Ngữ văn lớp 10 Kết nối tri thức I. Tác giả văn bản Mùa xuân chín. Hương thơm ; 2. Mật đắng ; 3. II. Tìm hiểu tác phẩm Mùa xuân chín. Với màu sắc cổ điển hài hoà với chất dân dã trẻ trung, bình dị, bài thơ "Mùa xuân III. Tìm hiểu chi tiết tác phẩm Mùa xuân Tác giả tác phẩm lớp 10. Tài liệu tác giả tác phẩm Ngữ văn lớp 10 học kì 1, học kì 2 vừa đủ Nội dung bài thơ, Nội dung đoạn trích, Nội dung tác phẩm, Hoàn cảnh sáng tác, sơ lược về tác giả, đọc hiểu văn bản và Dàn ý nghiên cứu và phân tích các tác phẩm trong Luyện thi lớp 10 - Phân tích tác phẩm "Làng" của Kim Lân - Học ngay cùng Kiến Guru! Chắc chắn bạn đang tìm kiếm đúng không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các video thú vị tại Truyện ngắn Xem các video về truyện kinh dị […] 5. Mã Giám Sinh mua Kiều (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) 6. Bếp lửa - Bằng Việt. 7. Đồng chí - Chính Hữu. Những tác phẩm thi vào lớp 10 năm 2022 - Kỳ thi vào lớp 10 năm 2022 đã đến rất gần. Nhằm giúp các bạn học sinh có thêm tài liệu ôn thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn. Trong Comment Faire Des Rencontres Sur Skype. đối với chương trình ngữ văn lớp 10 sẽ được chia thành 2 tiết với 2 tác phẩm khác nhau. Hãy cùng tìm hiểu thêm về những tác phẩm này qua bài viết sau. chiến thắng mtao mxai mtao mxay là một tác phẩm văn học sử thi, một trong những tác phẩm ăn khách, gồm có 3 phần. và đoạn trích chiến thắng mtao mxay ở phần giữa, kể về việc sau khi kết hôn với hai chị em nhà cacique, anh đã trở thành một người giàu có và nổi tiếng. tù trưởng là kền kền và lừa, khi đi săn bắt nô lệ ngoài đồng, xuống sông lao động sản xuất thì kéo người đến cướp bóc buôn làng, lấy huý nhi làm vợ. Cả hai lần đều bị tiêu diệt, cuộc săn đập tổ chức chiến đấu và giành chiến thắng, cả hai lần cứu vợ và sáp nhập đất đai của kẻ thù, khiến danh tiếng của ông càng thêm lừng lẫy. Sau đó, Đam Săn quay lại mở tiệc lớn. & gt; & gt; xem thêm câu tường thuật là gì câu chuyện của an duong vuong va my chau – trong thuy câu chuyện về an duong va my chau – trong thuy kể về việc sau khi giúp an duong vuong xây dựng loa phóng thanh, trước khi rời đi, vị thần kim đã cho anh một cái vuốt để làm nỏ thần. Nhờ có nỏ thần, An Dương Vương đã đánh tan quân Triệu Đà xâm lược. Triệu da sau đó đã cầu hôn tôi chau và được một con đường chấp nhận. Tuy nhiên, trong thúy âm mưu đánh cắp nỏ thần đem về phương bắc, quân triệu đà đem quân đánh au lac. Không có nỏ thần, một con du đãng thua trận và bỏ chạy về phương nam cùng với con châu. Khi đó, thần kim quy hiện ra tố cáo tôi chầu giúp trong việc trộm nỏ thần, vua chém chết rồi phi tang xuống biển. của ta chết đi, máu chảy ra biển thành ngọc, khi nàng ở dưới nước, chàng đem xác vợ chôn ở kinh thành, xác hóa thành ngọc. vì quá buồn và khóc thương em, trong thuy cũng lặn xuống giếng mà chết. sau này, người ta tìm thấy ngọc, rửa bằng nước giếng, ngọc càng sáng. & gt; & gt; xem thêm trung tâm luyện thi đại học oops – lít – xơ đã trở lại đây là một tác phẩm khá nổi tiếng và rất quan trọng trong chương trình ngữ văn học kì 1 lớp 10, tác phẩm này kể về việc sau khi bị đánh bại, Ọ – lít – xơ trở về với cánh đồng. anh đã phải phiêu bạt khắp chân trời góc bể suốt 10 năm trời vẫn chưa về được quê hương. Trong quá trình này, nữ thần Calypso đã giam giữ anh ta vì cô ấy yêu anh ta. Cảm thương cho số phận của mình, thần Zeus đã đến và ra lệnh cho các hiệp sĩ thả anh ta ra đi. sau khi anh được thả ra, cơn bão đã nhấn chìm anh, cuốn anh vào thế giới cà phê và công chúa yêu anh say đắm, nhà vua đã đối xử tử tế. Uy – litro – nun theo di chúc của nhà vua kể lại câu chuyện đầy thú vị và phiêu lưu của mình với những người bạn cũ. ấn tượng, nhà vua đã cử một con tàu để đưa anh ta trở về quê hương của mình. Khi về nhà, anh ta cải trang thành người ăn xin để vợ không nhận ra mình. và trước sức ép của bọn cầu hôn, vợ ông là Pê-nê-lốp thách ai nhấc được cung từ bộ tứ, bắn qua 12 mũi rìu thì phải cưới người đó. tất cả những người cầu hôn đều thất bại, chỉ có uy – lít – cô lúc đó mới bội phục, Pê-nê-lốp nhận ra chồng và họ đã gặp lại nhau. & gt; & gt; xem thêm cách dạy bé học chữ cái ra – tố cáo ma Ra – ma buộc tội là vở kịch kể về vua da – sa – ra – tha có 4 người con trai, ra – ma là con cả và vượt trội hơn họ về tài năng và đức độ. vì vậy vua cha định nhường ngôi cho nàng nhưng vì lời hứa với người vợ thứ hai là ka – ke – i xinh đẹp nên đã đày -ma vào rừng, trả lại ngai vàng cho con trai của ka – ke – tôi là bha – out – ta. Xem thêm Tác giả tác phẩm Ngữ văn lớp 9 – Nội dung tác phẩm, Dàn ý phân tích, Bố cục, Tóm tắt, Giá trị, Tác giả sau đó, rama cùng vợ là xi – ta, anh trai lắc – ma – na vào rừng sống ẩn dật. quỷ vương ra – va – na âm mưu đánh cắp xi – ta để mang về làm vợ. Bất chấp sự dụ dỗ và ép buộc của quỷ vương, xi – ta vẫn kịch liệt chống lại. nhờ sự giúp đỡ của tướng han-nu-man, ra-ma đã cứu được vợ, nhưng anh nghi ngờ thời hạn mà không muốn nhận cô về. Để chứng minh lòng trung thành của mình, Xi-ta đã nhảy vào lửa. thần lửa biết cô còn trong trắng và cứu cô. rama – ma và xi – ta sau đó trở về thủ đô. & gt; & gt; xem thêm Dạy tiếng Việt cho người Hàn Quốc tấm cám món cám có lẽ là câu chuyện cổ tích không còn quá xa lạ với chúng ta. và câu chuyện này đã được đưa vào chương trình ngữ văn lớp 10 học kì 1 dành cho các em học sinh tìm hiểu truyện cổ tích. theo truyện, tam là một cô gái tốt bụng, chăm chỉ nhưng bố mất sớm, cô phải sống với dì Cám, con trai của dì. Tấm lại dành dụm, hư hỏng, lừa như lấy cả rổ tôm, mất con cá bống làm bạn của Tấm. đến ngày tổ chức tiệc, mẹ con bắt đi thu dọn cơm nước, không cho đi dự tiệc. Thấy vậy, bà Phật tử xuất hiện giúp bà thu lúa, chuẩn bị quần áo đẹp cho bà đi dự hội. Xem Thêm Ngữ văn 9 Ôn tập chuyên đề "Thơ về tình yêu quê hương, đất nước" Khi trở về, cô đánh rơi một chiếc giày mà nhà vua đã tìm thấy và nhờ đó cô được chọn làm hoàng hậu. Ngày giỗ cha, đi hái cau, bà dì ghẻ chặt cây, chàng chết đuối biến thành con chim vàng anh. từ đó, tôi vào cung vua thay thế. cám giết chim vàng anh, lông vũ trở thành cây bách che bóng cho vua, cám chặt cây sa mộc đóng khung làm khung cửi rồi đốt bỏ tro bên vệ đường. đống tro tàn đó là cây mọc, quả chín rơi vào túi của bà lão bán nước. Thư lại ra quả, trở thành quen thuộc của bà cụ. Vua đi ngang qua quán, nhận ra miếng trầu có hình cánh phượng, bèn đón nàng về làm hoàng hậu. sau đó, hai mẹ con bị trừng phạt và sống hạnh phúc đến cuối đời. & gt; & gt; xem thêm kiểu và biểu thức văn bản 2. tác phẩm văn học lớp 10 quý 2 Trong chương trình học kì 2 lớp 10, học sinh sẽ được khám phá những thể loại văn học mới như thơ ca với những tác phẩm độc đáo. Cụ thể, nội dung của các tác phẩm này như sau sông giàu có bach đăng the phu bach dang river là bài thơ về hoài niệm quá khứ, con sông bach dang phú thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trước chiến thắng trên dòng sông bach dang. đồng thời bài thơ cũng ca ngợi truyền thống anh hùng bất khuất, truyền thống đạo lý nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm này còn chứa đựng những tư tưởng nhân văn cao đẹp thông qua việc bảo vệ vai trò và vị trí của con người trong lịch sử. & gt; & gt; xem thêm bài viết mùa xuân một nồi ngô lớn Đấm ngo đại cao là một bài thơ khá dài, một bản tuyên ngôn độc lập, qua đó vạch trần tội ác của kẻ thù xâm lược, đồng thời ca ngợi thắng lợi của cuộc khởi nghĩa lam sơn. Bài thơ này được chia thành 4 phần với nội dung cụ thể như sau Xem thêm Top 10 mẫu phân tích bài thơ về Tiểu đội xe không kính hay chọn lọc – phần 1 chỉ đề cập đến luận điểm. – phần 2 trình bày một bản cáo trạng hùng hồn và đẫm máu về tội ác của kẻ thù. – phần 3 là sử thi về việc nuôi dạy con trai lam. – phần 4 là tuyên bố độc lập của đất nước. & gt; & gt; xem thêm giáo viên bản ngữ là gì tiêu đề đoạn trích diem thi tap Nhan đề trích Diêm Thiết thể hiện niềm tự hào và tinh thần trách nhiệm sâu sắc của Hoàng Đức Lương trong việc gìn giữ di sản văn học của tổ tiên. từ đó giúp chúng ta có thái độ trân trọng và yêu quý di sản văn học của dân tộc. Công việc này bao gồm 3 phần chính – phần 1 nói về lý do tại sao thơ thất truyền. – phần 2 nói về thực trạng văn học nước nhà với tâm sự của tác giả. Xem Thêm Cô bé bán diêm – Tác giả tác phẩm mới 2022 Ngữ văn lớp 8 – phần 3 là phần giới thiệu về người viết, tuyển tập diem thiet. & gt; & gt; xem thêm trình độ ngoại ngữ cấp 3 là gì? hung dao dai vuong tran quoc tuan Vở kịch hùng dao đại thắng trần quốc tuấn kiệt thể hiện tài năng đạo đức của anh hùng dân tộc trần quốc tuấn. Qua đoạn trích này, chúng ta càng thêm ấn tượng và tự hào về người anh hùng này, đồng thời hiểu rõ hơn những bài học đạo đức quý báu mà ông để lại cho đời sau. tác phẩm này cũng gồm 3 đoạn văn với nội dung chính Xem thêm Giới thiệu về tác giả Tế Hanh và tác phẩm Quê hương – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng – phần 1 là lời căn dặn của nhà vua về kế hoạch bảo vệ đất nước của Trần quốc tuấn. – phần 2 là trần quốc tuấn với những lời trăn trối của cha trong câu chuyện với người hầu và 2 con trai. – phần 3 là công lao to lớn của hung dao đại chiến trần quốc tuấn. hoàn cảnh cô đơn của người chinh phục Tác phẩm Situación Solitaria del Conquistador nói về những cung bậc cảm xúc khác nhau của nỗi cô đơn và nỗi buồn của Người chinh phục luôn khao khát và mong muốn được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. bài thơ gồm có 2 phần – phần 1 thể hiện sự cô đơn của kẻ chinh phục. – phần 2 thể hiện nỗi nhớ mong chồng ở một nơi xa. & gt; & gt; xem thêm Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài trao yêu thương trình bày là một tác phẩm rất hay về bi kịch tình yêu của thủy chung, nó thể hiện tiếng kêu đau đớn của tác giả đối với số phận con người trong xã hội phong kiến ​​xưa. nội dung tác phẩm gồm 3 phần – phần 1 nói về việc thuyết phục và dành tình cảm cho em gái của mình là thuy van. – phần 2 nói về những kỷ niệm cho tôi và đưa ra lời khuyên cho em gái tôi. – phần 3 là một cuộc độc thoại nội tâm đau đớn. Trên đây là tổng hợp những tác phẩm văn học lớp 10 tiêu biểu dành cho những bạn quan tâm. Hi vọng bài viết sẽ giúp các bạn học tốt và hoàn thành tốt các bài kiểm tra, bài thi của mình. Chương trình văn học lớp 10 có rất nhiều tác phẩm mà học sinh cần phải nhớ, nắm bắt được nội dung để có thể hoàn thành xuất sắc các bài kiểm tra hay kỳ thi quan trọng. Dưới đây là tổng hợp thông tin tóm tắt một số tác phẩm văn học lớp 10 phổ biến, mời các bạn cùng tham khảo nhé. Văn học lớp 10 thường sẽ không xuất hiện quá nhiều trong các kỳ thi lớn là tốt nghiệp, đại học. Tuy nhiên, trong quá trình học tập, trong các bài kiểm tra giữa kỳ, cuối kỳ lớp 10 thì vẫn sẽ có các câu hỏi, bài tập liên quan đến kiến thức văn học lớp 10. Do đó, để có thẻ vượt qua được những kỳ thi, các bạn học sinh cần hiểu, nắm chắc được nội dung các bài học và đây cũng là một trong các cách làm sao để học giỏi văn hơn. Đối với chương trình văn học lớp 10 thì sẽ phân chia thành 2 kỳ với 2 mảng tác phẩm khác nhau. Cùng tìm hiểu chi tiết hơn về các tác phẩm này qua bài viết dưới đây. 1. Các tác phẩm văn học lớp 10 kỳ 1 Chiến thắng Mtao Mxây Mtao Mxây là một tác phẩm văn học sử thi, là một trong các tác phẩm phổ biến, bao gồm có 3 phần. Và đoạn trích chiến thắng Mtao Mxây thuộc phần giữa, kể về việc sau khi về làm chồng 2 chị em tù trưởng Hơ Nhị và Hơ Bhị thì Đăm Săn trở thành một tù trưởng giàu có, uy danh lừng lẫy. Các tù trưởng là Kên kên và Sắt lừa lúc Đăm Săn cùng nô lệ lên rẫy thì đã ra sông lao động sản xuất, kéo người đến cướp phá buôn làng, bắt Hơ Nhị về làm vợ. Chiến thắng Mtao Mxây Cả 2 lần bị phá đó, Đăm Săn đều tổ chức đánh trả và giành được chiến thắng, vừa cứu được vợ, vừa sáp nhập được đất đai của kẻ địch khiến cho oai danh của chàng lại càng thêm lừng lẫy. Sau đó, Đăm Săn đã trở về mở tiệc ăn mừng linh đình. >> Xem thêm Câu trần thuật là gì Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy kể việc việc sau khi giúp An Dương Vương xây dựng Loa Thành xong, trước khi ra về thần Kim Quy đã tặng cho ông một chiếc vuốt để làm nỏ thần. Nhờ có nỏ thần mà An Dương Vương đã đánh bại được quân Triệu Đà xâm lược. Triệu Đà sau đó đã cầu hôn Mị Châu cho Trọng Thủy và được An Dương Vương đồng ý. Tuy nhiên, Trọng Thủy lại có âm mưu trộm nỏ thần để mang về phương Bắc và quân Triệu Đà lại phát binh đánh Âu Lạc. Không còn nỏ thần, An Dương Vương thua trận, cùng Mị Châu bỏ trốn về phương Nam. Lúc đó thần Kim Quy đã hiện lên để kết tội Mị Châu vì giúp Trọng Thủy lấy trộm nỏ thần, vua chém chết con rồi đi xuống biển. Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy Mị Châu chết, máu chảy xuống biển thành ngọc trai, Trọng Thủy thì mang xác vợ về chôn ở Loa Thành và xác liền biến thành ngọc thạch. Vì quá đau buồn, thương tiếc Mị Châu nên Trọng Thủy cũng lao đầu xuống giếng mà chết. Sau này người đời mò được ngọc trai, rửa bằng nước giếng thì viên ngọc càng thêm sáng. >> Xem thêm Trung tâm luyện thi đại học Uy – lít – xơ trở về Đây là một tác phẩm khá nổi tiếng và rất quan trọng trong chương trình văn học lớp 10 của học kỳ 1. Tác phẩm này kể về việc sau khi hạ được thành Tơ – roa thì Uy – Lít – xơ đã trở về quê hương. Chàng phải lênh đênh khắp góc bể chân trời 10 năm mà vẫn chưa thể về tới quê nhà. Trong quá trình đó, chàng bị nữ thần Ca – líp – xô cầm giữ chỉ vì yêu chàng. Cảm thương cho số phận của chàng, thần Dớt sai Hécmét đã đến và lệnh cho Ca – líp – xô phải để chàng ra đi. Sau khi được thả ra, chàng lại tiếp tục bị bão đánh chìm bè, dạt vào xứ Phê – a – ki và được công chúa Nô – xi – ca yêu say đắm, nhà vua thì tiếp đãi tử tế. Uy – lít – xơ theo ý nhà vua kể lại câu chuyện li kỳ, mạo hiểm của mình cùng đồng đội trước đây. Cảm phục, nhà vua đã cho thuyền đưa chàng trở về quê hương I – tác. Tác phẩm Uy – lít – xơ trở về Khi về đến nhà, chàng cải trang thành người hành khất nên vợ không nhận ra. Và để trả lời sự thúc ép của bọn cầu hôn, vợ chàng là Pê – nê – lốp đã thách ai giương được chiếc cung của Uy – lít – xơ, bắn xuyên qua 12 chiếc vòng rìu thì sẽ lấy người đó. Tất cả những người cầu hôn đều thất bại, chỉ có Uy – lít – xơ lúc đó là thành công, Pê – nê – lốp nhận ra chồng và họ được đoàn tụ cùng nhau. >> Xem thêm Cách dạy bé học chữ cái Ra – ma buộc tội Ra – ma buộc tội là tác phẩm nói về vua Đa – xa – ra – tha có 4 người con trai, Ra – ma là con cả và hơn hẳn các em về tài đức. Vì thế, vua cha có ý định sẽ nhường ngôi cho chàng nhưng vì lời hứa với vợ thứ là Ka – kê – I xinh đẹp nên đã đày Ra – ma vào rừng, trao ngôi lại cho con của Ka – Kê – I là Bha – ra – ta. Sau đó, Ra – ma cùng vợ là Xi – ta, em trai Lắc – ma – na vào rừng sống ẩn dật. Quỷ vương Ra – va – na lập mưu cướp Xi – ta để đem về làm vợ. Mặc cho quỷ vương dụ dỗ, ép buộc nhưng Xi – ta vẫn chống cự kịch liệt. Nhờ có sự giúp đỡ của tướng Ha – nu – man, Ra – ma đã cứu được vợ nhưng lại nghi ngờ tiết hạn mà không muốn nhận lại nàng. Để chứng minh cho lòng chung thủy, Xi – ta đã nhảy vào lửa. Thần lửa biết nàng trong sạch nên đã cứu nàng. Ra – ma và Xi – ta sau đó đã quay trở lại kinh đô. >> Xem thêm Dạy tiếng Việt cho người Hàn Tác phẩm văn học Ra – ma buộc tội Tấm cám Tấm cám có lẽ là câu chuyện cổ tích không còn xa lạ đối với chúng ta. Và truyện này đã được đưa vào chương trình văn học lớp 10 kỳ 1 để các bạn học sinh tìm hiểu về thể loại cổ tích. Theo câu chuyện, tấm là một cô gái hiền lành, chăm chỉ nhưng cha mất sớm, cô phải ở với dì ghẻ và Cám – con của dì. Tấm bị Cám hết lần này đến lần khác hãm hại, lừa gạt như là lấy hết giỏ tép, thịt mất con cá Bống làm bạn của Tấm. Đến ngày hội, mẹ con Cám bắt Tấm phải nhặt thóc, gạo và không cho đi dự tiệc. Thấy vậy, Bụt hiện lên giúp tấm nhặt thóc, chuẩn bị quần áo đẹp cho cô đi dự hội. Lúc trở về, tấm đánh rơi 1 chiếc giày, vua nhặt được và nhờ đó mà Tấm được chọn làm hoàng hậu. Đến ngày giỗ cha, tấm trèo lên hái cau và vị dì ghẻ chặt cây, Tấm chết đuối biến thành chim vàng anh. Từ đó mà Cám thế chân đi vào hoàng cung của vua. Cám giết chết chim vàng anh, lông chim lại biến thành cây xoan đào che mát cho vua, Cám chặt cây xoan đào đóng khung cửi thì bị mắng liền đốt đi và vứt tro bên đường. Đống tro tàn đó là mọc lên một cây thị, quả thị chín rơi vào bị của bà lão bán nước. Tác phẩm văn học Tấm cám Tấm lại chui ra từ quả thị, trở thành người nhà của bà lão. Nhà vua đi qua quán nước thì nhận ra miếng trầu Tấm têm cánh phượng và đón nàng quay trở lại làm hoàng hậu. Sau đó, mẹ con Cám bị trừng trị và Tấm sống cuộc sống hạnh phúc suốt đời. >> Xem thêm Các kiểu văn bản và phương thức biểu đạt 2. Các tác phẩm văn học lớp 10 kỳ 2 Sang đến chương trình học kỳ 2 của lớp 10, các bạn học sinh sẽ được khám phá những thể loại văn học mới đó là thơ với các tác phẩm đặc sắc. Cụ thể nội dung của các tác phẩm đó như sau Phú sông Bạch Đằng Phú sông Bạch Đằng là một bài thơ nói về những hoài niệm quá khứ và Phú sông Bạch Đằng thể hiện về lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc trước chiến công trên sông Bạch Đằng. Đồng thời, bài thơ cũng ca ngợi về truyền thống anh hùng bất khuất, truyền thống đạo lý nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam. Trong tác phẩm này cũng chứa đựng những tư tưởng nhân văn cao đẹp thông qua việc đề cao vai trò, vị trí của con người trong lịch sử. >> Xem thêm Bài viết về mùa xuân Phú sông Bạch Đằng Bình ngô đại cáo Bình ngô đại cáo là một bài thơ khá dài – một bản tuyên ngôn độc lập để thông qua đó vạch tội các của kẻ thù xâm lược, đồng thời ca ngợi chiến thắng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Bài thơ này chia thành 4 phần với nội dung cụ thể như sau - Phần 1 thể hiện về các luận đề chính nghĩa. - Phần 2 thể hiện bản cáo trạng một cách hùng hồn, đẫm máu về tội ác của kẻ thù. - Phần 3 là một bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. - Phần 4 là lời tuyên bố độc lập của đất nước. >> Xem thêm Giáo viên bản ngữ là gì Tựa trích diễm thi tập Tựa trích diễm thi tập cho thấy niềm tự hào sâu sắc cùng với ý thức trách nhiệm của Hoàng Đức Lương trong vấn đề bảo tồn những di sản văn học của tiền nhân. Thông qua đó giúp chúng ta có thái độ trân trọng, yêu quý các di sản văn học của dân tộc. Tựa trích diễm thi tập Tác phẩm này bao gồm có 3 phần chính đó là - Phần 1 nói về nguyên nhân khiến cho thơ văn bị thất lạc. - Phần 2 nói về thực trạng thơ văn của nước nhà kèm theo tâm sự của tác giả. - Phần 3 là giới thiệu về người viết, công cuộc sưu tầm trích diễm thi tập. >> Xem thêm Trình độ ngoại ngữ bậc 3 là gì Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn Tác phẩm Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn thể hiện tài năng đức độ của người anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn. Thông qua đoạn trích này, chúng ta thêm cảm phục, tự hào hơn về người anh hùng này, đồng thời cũng hiểu hơn những bài học đạo lý quý báu mà ông để lại cho đời sau. Tác phẩm này cũng bao gồm có 3 đoạn với nội dung chính đó là Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn - Phần 1 là lời khuyên của vua Trần về kế sách giữ nước của Trần Quốc Tuấn. - Phần 2 là Trần Quốc Tuấn với lời trăng trối của cha trong câu chuyện với gia nô và 2 đứa con trai. - Phần 3 là những công tích lớn của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Tác phẩm tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ nói về những cung bậc cảm xúc, sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ của người chinh phụ luôn khát khao, mong muốn được sống trong tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. Bài thơ bao gồm có 2 phần đó là - Phần 1 thể hiện nỗi cô đơn của người chinh phụ. - Phần 2 thể hiện về nỗi nhớ chồng nơi phương xa. >> Xem thêm Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Trao duyên Trao duyên là một tác phẩm rất hay kể về bi kịch trong tình yêu của nàng Thúy Kiều, thể hiện về tiếng kêu đau đớn của tác giả đối với số phận của con người trong xã hội phong kiến ngày xưa. Tác phẩm văn học Trao duyên Nội dung tác phẩm gồm 3 phần - Phần 1 nói về việc Kiều thuyết phục, trao duyên của mình cho em gái là Thúy Vân. - Phần 2 là Kiều trao những kỷ vật, dặn dò em gái. - Phần 3 là Kiều đau đớn, độc thoại nội tâm. Trên đây là tóm tắt nội dung của các tác phẩm văn học lớp 10 tiêu biểu dành cho những bạn đang quan tâm. Mong rằng bài viết sẽ giúp các bạn có thể học tốt, hoàn thành thật xuất sắc các bài kiểm tra, bài thi của mình nhé. Các dạng đề nghị luận xã hội và cách triển khai chi tiết Bên cạnh các tác phẩm văn học thì các bạn học sinh cũng cần quan tâm đến dạng nghị luận xã hội cùng cách triển khai để có thể hoàn thành các bài kiểm tra liên quan đến kiến thức làm văn trong chương trình học tập. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho các bạn những thông tin đó, cùng tham khảo nhé. Các dạng đề nghị luận xã hội Từ khóa liên quan Chuyên mục Chuyên mục sẽ giúp các bạn có được các bài tóm tắt tác phẩm ngắn gọn nhưng vẫn đủ ý để tham khảo. Những bài tóm tắt này rất hữu ích khi các bạn làm bài soạn văn 10, soạn văn 10 ngắn gọn hay soạn văn 10 siêu ngắn. Đọc hiểu Tác giả - Tác phẩm Ngữ Văn 10Tác giả - Tác phẩm Ngữ văn 10 tóm gọn nội dung bài thơ, nội dung tác phẩm, nội dung đoạn trích, hoàn cảnh ra đời, cuộc đời và sự nghiệp của tác giả cũng như soạn bài, lập dàn ý phân tích các tác phẩm trong chương trình học Ngữ Văn lớp 10 giúp các bạn học sinh đọc hiểu tác phẩm lớp 10 hiệu quả hơn, chuẩn bị tốt cho các ki thi quan trọng sắp diễn ra. Trong bài thi môn Ngữ văn, phần làm văn sẽ chiếm đến 1 nửa số điểm, chính vì vậy hãy đảm bảo bài văn của bạn đủ cảm xúc. Hi vọng bài viết sẽ giúp bạn có được những ý tưởng hay cho phần mở bài của riêng mình khi làm các bài nghị luận văn học Mở bài Chí Khí Anh Hùng Kết bài Chí Khí Anh Hùng Mở bài Trao duyên Văn mẫu hay nhất Kết bài Trao duyên Văn mẫu hay nhất Mầm mống hay mầm móng là gì? Cảm nhận hình tượng nhân vật khách trong bài “Phú sông Bạch Đằng Tư tưởng nhân nghĩa trong "Bình Ngô Đại Cáo" hay nhất Cảm nhận Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Phân tích bài thơ Chí khí anh hùng hay ngắn gọn nhất Tổng hợp đề thi văn lớp 10 mới đầy đủ nhất 2022 Bộ đề thi giữa học kì 2 năm 2021 môn Văn 10 có đáp án Thuyết minh về tác phẩm văn học - Phú sông Bạch Đằng Dàn ý thuyết minh về tác phẩm Phú sông Bạch Đằng I. Mở bài - Giới thiệu tác phẩm "Phú Sông Bạch Đằng" và tác giả Trương Hán Siêu II. Thân bài * Khái quát về tác phẩm - Hoàn cảnh sáng tác Vương triều nhà Trần đang có biểu hiện suy thoái, có nguy cơ sụp đổ. Tác giả là một trọng thần, tình cờ dạo chơi đến sông Bạch Đằng và nhớ lại lịch sử hào hùng của dân tộc - Cảm hứng bao trùm Phú Sông Bạch Đằng vừa mang cảm hứng lịch sử, vừa mang cảm hứng thời thế, vừa có những triết lý được đúc rút thành bài học. - Bố cục 3 phần + Phần mở đầu từ đầu cho đến ... dấu vết luống còn lưu, giới thiệu nhân vật và lý do sáng tác. + Phần thứ hai từ Bên sông các bô lão... cho đến Nhớ người xưa chừ lệ chan là nội dung đối đáp của nhân vật "khách" và các bô lão hai bên bờ sông. + Phần kết thúc còn lại là lời ngợi ca của của nhân vật "khách". - Nhân vật "Khách" xuất hiện trong tác phẩm có thể là tác giả, cũng có thể là một nhân vật trữ tình vô danh không rõ ràng. * Thuyết minh nội dung tác phẩm - Phần mở đầu, tác giả tái hiện cảnh dạo thuyền chơi sông của nhân vật "khách" + Khách là người yêu du ngoạn, mạnh mẽ, phóng khoáng. Ông đang mải mê ngược dòng thời gian để tìm về lịch sử hào hùng của dân tộc Đại Việt. + Tâm trạng của "khách" chứa chất nhiều nỗi suy tư + "Khách" phải chăng chính là "cái tôi" của tác giả, nhạy cảm, nặng lòng ưu ái với đất nước và lịch sử dân tộc. - Cuộc gặp gỡ và đối đáp của "khách" với bô lão + "Bô lão" là chứng nhân của lịch sử, xuất hiện tạo ra không khí đối đáp tự nhiên, giúp "khách" sống lại với những trận thuỷ chiến lẫy lừng từng diễn ra ở nơi đây. + Những kỳ tích oai phong được gợi lên chân thực qua những hình ảnh liệt kê trùng trùng điệp điệp + Chiến thắng trên sông Bạch Đằng được tái hiện dưới hình thức bài thơ tự sự đậm chất anh hùng ca. + Chiến thắng hiển hách của dân tộc không chỉ nhờ vào địa thế hiểm trở mà còn nhờ vào nhân tài đất nước. - Lời ca ngợi + Khẳng định sự tồn tại vĩnh hằng của dòng sông lịch sử và những chiến công hiển hách nơi đây. + Đồng thời cũng khẳng định sự tồn tại vĩnh hằng của chân lý bất nghĩa tất yếu sẽ tiêu vong, chỉ có anh hùng là lưu danh thiên cổ. + "Khách" ca ngợi 2 vị vua anh minh, tài đức, thể hiện quan niệm vững chắc vào vai trò của con người trong việc "giữ cuộc điện an" - một quan niệm tiến bộ và hết sức nhân văn. * Thuyết minh nghệ thuật của tác phẩm - "Phú Sông Bạch Đằng" được đánh giá là tác phẩm đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại Việt Nam. - Cấu tứ đơn giản mà hấp dẫn, bố cục chặt chẽ, những chi tiết chọn lọc đích đáng, súc tích, liền mạch cuồn cuộn cảm hứng. - Sự xuất hiện của nhiều điển tích, điển cố chọn lọc - Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng thành công những câu văn ngắn dài, đan xen thêm câu thơ tạo nên âm điệu hào hùng cho tác phẩm. III. Kết bài - Khẳng định lại giá trị của tác phẩm Thuyết minh về tác phẩm Phú sông Bạch Đằng Văn học mỗi thời kỳ đều để lại cho dân tộc những tác phẩm có giá trị lịch sử. Nhớ về thời Trần nhiều chiến công hiển hách, người ta không chỉ nhớ tới "Nam quốc sơn hà" mà còn nhớ tới một tác phẩm văn học nổi tiếng khác. Đó là bài thơ Phú Sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu. Bài Phú vừa là tác phẩm văn học xuất sắc vừa là tác phẩm thể hiện niềm tự hào dân tộc, gửi gắm tư tưởng triết lý sâu xa đáng suy ngẫm. Cảm hứng sáng tác của Phú Sông Bạch Đằng là sự hào hùng, bi tráng. Trương Hán Siêu viết lên tác phẩm này trong hoàn cảnh bản thân ông là một trọng thần của Vương triều nhà Trần, khi đó đang có biểu hiện suy thoái, có nguy cơ sụp đổ. Trong một lần dạo chơi, tình cờ nhớ lại quá khứ hào hùng đã qua của dân tộc. Bởi vậy, Phú Sông Bạch Đằng vừa mang cảm hứng lịch sử, vừa mang cảm hứng thời thế, vừa có những triết lý được đúc rút thành bài học. Về hình thức, Phú Sông Bạch Đằng được viết bằng chữ Hán, theo thể loại Phú cổ thể, mượn hình thức đối đáp "chủ - khách" để thể hiện nội dung. Hệ thống câu từ của cả bài được Trương Hán Siêu xây dựng theo lối kể chuyện độc đáo. Theo như lối kết cấu thông thường ở thể phú, bài phú có thể chia thành ba phần. Phần mở đầu từ đầu cho đến... dấu vết luống còn lưu, giới thiệu nhân vật và lý do sáng tác. Phần thứ hai từ Bên sông các bô lão... cho đến Nhớ người xưa chừ lệ chan là nội dung đối đáp của nhân vật "khách" và các bô lão hai bên bờ sông. Phần kết thúc còn lại là lời ngợi ca của của nhân vật "khách". "Khách" xuất hiện trong tác phẩm có thể là tác giả, cũng có thể là một nhân vật trữ tình vô danh không rõ ràng. Nội dung bài phú là hành trình vị "khách" giong thuyền chơi sông, đi qua rất nhiều cảnh đẹp. Đến sông Bạch Đằng, vị "khách" tình cờ được nghe các bô lão địa phương kể về chiến công ngày trước. Hết lời kể đến lời ca, "khách" nghe và nối lời ca tiếp. Từ đó giãi bày tâm trạng, tình cảm và suy ngẫm của mình về sông Bạch Đằng và lịch sử hào hùng, bi tráng. Về nội dung chi tiết của tác phẩm, chúng ta có thể tìm hiểu lần lượt qua ba phần. Phần mở đầu bài Phú, tác giả tái hiện cảnh dạo thuyền chơi sông của nhân vật "khách" trên mênh mông mặt nước "Khách có kẻ Giương buồm giong gió chơi vơi, Lướt bể chơi trăng mải miết". Trong câu thơ, ta thấy hiện lên hình ảnh người khách yêu du ngoạn đồng thời cũng là người mạnh mẽ, phóng khoáng. Ông đang mải mê ngược dòng thời gian để tìm về lịch sử hào hùng của dân tộc Đại Việt. Tâm trạng của "khách" vì lẽ đó chứa chất nhiều nỗi suy tư, "đứng lặng giờ lâu", "thương nỗi anh hùng đâu vắng tá?", "tiếc thay dấu viết luống còn lưu"... Dưới ngòi bút của Trương Hán Siêu, nhân vật "khách" chợt trở nên đầy sinh động. "Khách" phải chăng chính là "Cái tôi" của tác giả. Cái tôi của một con người mang trong mình tính cách tráng sĩ, của một hồn thơ nhạy cảm, của một kẻ sĩ nặng lòng ưu ái với đất nước và lịch sử dân tộc. Xuôi theo dòng lịch sử, "khách" và bô lão tương ngộ. Nhân vật "Bô lão" là hình ảnh tập thể, xuất hiện trong hành trình giống như sự ủng hộ với vị khách bên trên. Họ đồng thời cũng là chứng nhân của lịch sử. Sự xuất hiện của họ tạo ra không khí đối đáp tự nhiên, từ đó giúp "khách" sống lại với những trận thuỷ chiến lẫy lừng từng diễn ra ở nơi đây. Tất cả kỳ tích oai phong được gợi lên chân thực qua những hình ảnh liệt kê trùng trùng điệp điệp "Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng Nhị thánh bắt Ô Mã. Còng là bãi đất xưa Ngô Chúa Phú Hoàng Thao". Không khí chiến trận bừng bừng trong từng câu chữ "Thuyền bè muôn đội Tinh kỳ phấp phới, Hùng hổ sáu quân, Giáo gươm sáng chói"... Những hình ảnh đặc sắc và những điển tích lần lượt xuất hiện, nhấn mạnh sự thất bại thảm hại của quân giặc trong quá khứ Xích Bích, Hợp Phì, Bồ Kiên.... Chiến thắng trên sông Bạch Đằng được tái hiện dưới hình thức bài thơ tự sự đậm chất anh hùng ca. Tiếng trống trận, tiếng gươm khua như hoà vào cảm hứng tự hào, kiêu hãnh để rồi lắng lại trong suy ngẫm. Những trận thủy chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng cũng khẳng định tầm vóc lịch sử của dân tộc ta có thể sánh ngang với Trung Quốc. Thuyết minh về tác phẩm văn học - Truyện Kiều Dàn ý thuyết minh tác phẩm Truyện Kiều I. Mở bài - Giới thiệu về tác phẩm văn học - Truyện Kiều của Nguyễn Du II. Thân bài * Hoàn cảnh ra đời của truyện Kiều Có nhiều lười đồn cho rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc và có khi là trước khi đi sứ Trung Quốc. Ngay sau khi ra đời, Truyện Kiều được nhiều nơi khắc in và lưu hành rộng rãi. Hai bản in xưa nhất hiện còn là bản của Liễu Văn Đường 1871 và bản của Duy Minh Thị 1872, đều ở thời vua Tự Đức. Truyện dựa theo bộ truyện văn xuôi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân, lấy bối cảnh Trung Quốc thời vua Gia Tĩnh Đế đời nhà Minh từ năm 1521 tới năm 1567. Các nhân vật trong tác phẩm Thúy Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng, Mã Giám Sinh, Vương quan, tú bà, Thúc Sinh, Hoạn Thư... * Giá trị tư tưởng của Truyện Kiều Khát vọng về tự do, công lý và ước mơ của con người Là tiếng khóc thảm thiết của người phụ nữ phong kiến xưa Phê phán những thế lực vì đồng tiền mà áp bức người khác Là tình yêu thương của con người của ông * Giá trị nghệ thuật của Truyện Kiều Nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo Nghệ thuật tự sự Ngôn ngữ trong sang, điêu luyện Giọng điệu thương cảm, phù hợp với giá trị tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du III. Kết bài - Cảm nghĩ của em về Truyện Kiều - Khẳng định tài năng của Nguyễn Du, lòng thương người của ông - Thể hiện nên sự phân biệt đối với phụ nữ ở thời phong kiến. Thuyết minh tác phẩm Truyện Kiều “Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn...” Những câu thơ được trích trong bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? của Tố Hữu. Những câu thơ ấy là lời khẳng định về giá trị trường tồn của Truyện Kiều trong nền văn học nước nhà. Bởi lẽ, truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn...Phạm Quỳnh Truyện Kiều có tên là Đoạn trường tân thanh Đoạn đứt, trường ruột, tân mới, thanh âm thanh, tiếng kêu. Ta có thể hiểu nhan đề ấy có nghĩa là “tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột”. Nhan đề Đoạn trường tân thanh được Nguyễn Du lấy gốc từ hai điểm cố ở Trung Quốc. Một là từ câu chuyện của người đàn ông họ Trương ở Phúc Kiến, vào rừng bắt vượn con đánh để chúng kêu khóc vì muốn bắt vượn mẹ. Vượn mẹ không làm gì được, đứng trên cao nhìn, rú lên một tiếng rồi chết. Ông lão mang về nhà mổ bụng vượn mẹ thì thấy ruột đứt ra từng khúc. Câu chuyện ấy ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng và nỗi đau đứt ruột khi chứng kiến con mình bị hành hạ, đánh đập. Và một là câu chuyện về nàng cung nữ Mạnh Tài Nhân của vua Đường Vũ Tông, trước khi vua băng hà, nàng đã múa một điệu cuối cùng rồi chết đứng. Khám tử thi thì thấy ruột nàng đứt ra từng đoạn. Câu chuyện đã nhắc tới nỗi đau đứt ruột của đôi lứa khi vợ chồng phải xa lìa nhau. Đó là tiếng kêu về nỗi đau đứt ruột từ xa xưa, được người đời truyền tụng. Nguyễn Du đã dựa vào 2 câu chuyện trên để đặt tên cho tác phẩm của mình là Đoạn trường tân thanh. Ngày nay chúng ta gọi là Truyện Kiều- cách gọi tên truyện theo nhân vật chính là Thúy Kiều Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm, gồm câu thơ viết theo thể lục bát - thể thơ đặc trưng của dân tộc, rất giàu âm điệu và nhạc tính. Truyện được viết dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Nguyễn Du đã “hoán cốt đoạt thai” tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân để thổi một luồng gió mới vào trong tác phẩm, khiến nàng Kiều của Nguyễn Du mang vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam và mang vào truyện Kiều những sáng tạo mới mẻ về cả nội dung và nghệ thuật. Về thời điểm sáng tác, Từ điển văn học bộ mới ghi "Có thuyết cho rằng Nguyễn Du viết ra sau khi ông đi sứ Trung Quốc 1814-1820, có thuyết cho nói ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình 1804-1809. Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn”. Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thúy Kiều, một cô gái có tài sắc. Thúy Vân, Thúy Kiều và Vương Quan là con của Vương quan ngoại. Cả Vân và Kiều đều là người có nhan sắc nhưng Kiều không chỉ mang vẻ đẹp sắc sảo mà còn có đủ tài cầm, kỳ, thi, họa, đặc biệt là tài đánh đàn. Nhân một lần ba chị em đi du xuân trong tiết thanh minh, trên đường về Kiều đã gặp nấm mồ không hương khói của Đạm Tiên, nàng đã thắp một nén hương rồi gặp Kim Trọng. Đêm về, Kiều nằm mơ thấy Đạm Tiên báo cuộc đời nàng cũng phải trả kiếp nợ hồng nhan giống mình. Kim Trọng vì yêu mến Kiều đã chuyển về cạnh nhà nàng sinh sống. Nhân cha mẹ đi vắng, Kiều đã sang nhà bên cùng Kim trọng uống rượu thề nguyền dưới trăng. Cha và em Kiều bị thằng bán tơ vu oan, bị bắt giải lên nha môn, Kim Trọng phải về quê chịu tang chú nên không hay biết Kiều phải bán mình chuộc cha và em. Trước khi đi, Kiều đã trao duyên cho Vân, nhờ Vân trả nghĩa chàng Kim. Kiều bị lừa bán vào tay Mã Giám Sinh - Tú Bà, những tay buôn người chuyên nghiệp. Bị ép tiếp khách nhưng Kiều không đồng ý mà dùng cái chết để giữ gìn trinh tiết của mình. Tú Bà sợ mất món tiền lớn đã vờ ngon ngọt, hứa gả Kiều cho người tử tế sau khi nàng lành bệnh nhưng lại âm thầm cấu kết với Sở Khanh ép Kiều ra tiếp khách. Kiều được Thúc Sinh cứu và cưới làm vợ lẽ nhưng lại bị Hoạn Thư đánh ghen, nàng đã trầm mình trên sông Tiền Đường nhưng được sư bà Giác Duyên cứu. Thế nhưng sư bà Giác Duyên đã gửi gắm Kiều vào tay Bạc Bà, Bạc Hạnh - những kẻ buôn người, Kiều rơi vào lầu xanh lần thứ hai. Tại đây nàng đã gặp Từ Hải - người anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất, đã cứu Kiều khỏi lầu xanh, giúp nàng báo ân báo oán và có cuộc sống hạnh phúc ngắn ngủi. Từ Hải vì nghe lời Kiều mà ra đầu hàng Hồ Tôn Hiến để rồi bị chết đứng. Kiều phải ra hầu đàn, hầu rượu cho kẻ thù giết chồng bị ép gả cho một viên quan quèn. Quá uất ức, nàng đã trẫm mình trên sông nhưng lại được sư bà Giác Duyên cứu. Kim Trọng sau khi chịu tang chú trở lại biết chuyện, nên duyên với Vân nhưng vẫn đi tìm Kiều. Cuối cùng tìm được Kiều nhưng Kiều tủi nhục, xấu hổ vì không xứng đáng với Kim. Hai người đã chấp nhận “Đem tình cầm sắt đổi sang cầm kỳ” Truyện Kiều của Nguyễn Du sở dĩ trở thành kiệt tác bởi những giá trị tư tưởng và nghệ thuật mà nó mang đến cho nền văn học Trung Đại Việt Nam. Trước hết, Nguyễn Du đã dựng nên một bức tranh sinh động về một xã hội phong kiến thối nát - nơi mà sức mạnh của đồng tiền có thể mua được tất cả công lý, đạo đức, số phận của một con người. Xuyên suốt cả tác phẩm, ta như thấy được một thế lực đen tối của các ác trong xã hội đương thời không ngừng vùi dập, dìm sâu những khao khát rất đỗi nhân văn của con người xuống tận đáy sâu của sự tuyệt vọng. Truyện Kiều chính là bản cáo trạng đanh thép tội ác của kẻ thống trị và sức mạnh của đồng tiền. Cũng ở đó, ta bắt gặp số phận của một người con gái tài sắc nhưng lại truân chuyên, lênh đênh, chìm nổi. Khao khát được sống, được yêu, được hạnh phúc và tấm lòng sắc son của Thúy Kiều luôn được Nguyễn Du nhắc tới với một sự trân trọng, nâng niu. Trong suốt 15 năm lưu lạc, chưa bao giờ Kiều thôi nhớ về Kim Trọng và khao khát được trở về nhà. Nhưng ngặt một nỗi món nợ hồng nhan cứ cuốn chặt lấy nàng, càng giãy dụa, Kiểu càng bị thít chặt hơn. Và chỉ khi trả hết món nợ ấy, Kiều mới được trở về. Bởi vậy, Nguyễn Du mới đau đáu về thân phận của con người, đặc biệt là những người phụ nữ tài sắc trong xã hội xưa “Có tài mà cậy chi tài Chữ tài liền với chữ tai một vần” Đọc hết truyện Kiều, người đọc càng thương cảm cho số phận Kiều bao nhiêu thì khát vọng về tình yêu tự do và ước mơ công lý được Nguyễn Du gửi gắm càng hiện rõ bấy nhiêu. Khao khát tình yêu tự do ấy được Nguyễn Du gửi gắm trong bước chân “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” của Kiều trong đêm thề nguyền dưới trăng với Kim Trọng. Có người đã nhận xét, khi Kiều xăm xăm băng lối vườn khuya một mình để gặp Kim Trọng cũng là lúc nàng đạp đổ những định kiến của xã hội phong kiến, phá bỏ những rào cản, xiềng xích trói buộc người phụ nữ đến với hạnh phúc cuộc đời mình. Ước mơ về công lý ấy được Nguyễn Du gửi gắm trong phiên tòa báo ân báo án của Thúy Kiều với Thúc Sinh, Hoạn Thư, Tú Bà....Như một câu chuyện cổ tích, Kiều được gặp gỡ Từ Hải và được chàng yêu thương. Có lẽ, quãng thời gian ngắn ngủi bên từ Hải là quãng thời gian hạnh phúc nhất trong suốt 15 năm lênh đênh chìm nổi của Kiều. Và chắc hẳn, Nguyễn Du cũng nhận ra chính Từ Hải và chỉ có Từ Hải mới mang đến cho Kiều hạnh phúc trọn vẹn như nàng mong muốn mà thôi. Truyện Kiều cũng là bức chân dung tinh thần tự họa của Nguyễn Du, với “con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”. Con người chan chứa tình yêu thương con người ấy đau cùng nỗi đau của nhân vật, khóc cũng nỗi tủi hờn, nhục nhã của nhân vật và cũng vui sướng khi đứa con tinh thần của mình được yêu thương, trân trọng. Cách mở bài chúng cho tất cả các tác phẩm lớp 10 Thuyết minh về tác phẩm văn học - Bình Ngô Đại Cáo Dàn ý thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo I. Mở bài - Dẫn dắt vấn đề Khái quát về tác giả, tác phẩm, giá trị nội dung, nghệ thuật của bài Bình Ngô đại cáo. II. Thân bài - Nêu luận đề chính nghĩa Cốt lõi nhân nghĩa chính là yên dân và trừ bạo. Nhân nghĩa không bó hẹp trong khuôn khổ tư tưởng Nho giáo mà rộng hơn là làm thế nào để đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân. Bên cạnh đó khẳng định nước ta tuy là một nước nhỏ nhưng vẫn có thể tự hào về + Nền văn hiến lâu đời. + Cương vực lãnh thổ. + Phong tục tập quán. + Lịch sử và chế độ riêng. - Bản cáo trạng vạch rõ tội ác kẻ thù Giặc Minh xảo quyệt thừa nước đục thả câu. Không những thế còn tàn sát, hành hạ, tước đoạt mạng sống con người một cách dã man dẫn chứng. - Tổng kết quá trình kháng chiến+Xây dựng hình tượng người anh hùng áo vải bình thường nhưng có lòng yêu nước thương dân và căm thù giặc sâu sắc, có lí tưởng cao cả so sánh với Trần Quốc Tuấn để thấy được lòng căm thù giặc và niềm tin sắt đá. + Khắc họa những chiến công oanh liệt hào hùng dẫn chứng. - Tuyên bố hòa bình mở ra kỉ nguyên mới. * Nghệ thuật - Sử dụng từ ngữ hiển nhiên, vốn có. - Biện pháp đối lập, lấy cái vô hạn của trúc Nam Sơn để nói đến cái vô hạn trong tội ác giặc Minh, lấy cái vô cùng của nước Đông Hải để nói lên sự dơ bẩn vô cùng. - Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật. - Liệt kê, so sánh, đối lập để tạo thành bản anh hùng ca về những chiến công oanh liệt. III. Kết bài - Tóm tắt lại nội dung, nghệ thuật tiêu biểu. Thuyết minh về Bình Ngô Đại Cáo Trong dòng văn học ca ngợi truyền thống yêu nước xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam, "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi được đánh giá là áng "thiên cổ hùng văn", là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, được các thế hệ người Việt luôn yêu thích, tự hào. "Bình Ngô đại cáo" được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng đầu năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải ký hòa ước, rút quân về nước, nước ta bảo toàn được nền độc lập tự chủ, hòa bình. Nguyễn Trãi -62 là một anh hùng dân tộc, là người toàn tài hiếm có trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Ông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh đồng thời cũng là nhà thơ trữ tình sâu sắc, nhà văn chính luận kiệt xuất, là cây đại thụ đầu tiên của văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm "Bình Ngô đại cáo" được Nguyễn Trãi viết theo thể cáo, một thể văn có nguồn gốc từ Trung Hoa, viết bằng chữ Hán, thuộc thể văn hùng biện chính luận, có nội dung thông báo một chính sách, một sự kiện trọng đại liên quan đến quốc gia dân tộc, công báo trước toàn dân. Nhan đề tác phẩm có ‎ ý nghĩa là bài cáo trọng đại tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô-một tên gọi hàm ý khinh bỉ căm thù giặc Minh xâm lược. Bài cáo có bố cục chặt chẽ mạch lạc, viết theo lối biền ngẫu, vận dụng thể tứ lục, sử dụng hệ thống hình tượng sinh động, gợi cảm. Bài cáo gồm bốn đoạn. Đoạn đầu nêu cao luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến, đó là tư tưởng nhân nghĩa kết hợp với độc lập dân tộc "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân-Quân điếu phạt trước lo trừ bạo" và "Như nước Đại Việt ta từ trước-Vốn xưng nền văn hiến đã lâu". Đoạn thứ hai của bài cáo đã vạch trần, tố cáo tội ác dã man của giặc Minh xâm lược. Đoạn văn là bản cáo trạng đanh thép, tố cáo giặc Minh ở các điểm âm mưu cướp nước, chủ trương cai trị phản nhân đạo, hành động tàn sát tàn bạo. Đồng thời, đoạn văn cũng nêu bật nỗi thống khổ, khốn cùng của nhân dân, dân tộc ta dưới ách thống trị của kẻ thù "Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn-Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ"; "Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế-Gây binh kết oán, trải hai mươi năm". Đoạn văn ngùn ngụt Ý chí căm thù giặc và thống thiết nỗi thương dân lầm than. Đoạn văn thứ ba là đoạn dài nhất của bài cáo, có Ý nghĩa như bản anh hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đoạn văn đã tổng kết lại quá trình khởi nghĩa. Ban đầu cuộc khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn, lương thảo, quân sĩ, người tài đều thiếu, nghĩa quân ở vào thế yếu "Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần-Khi Khôi Huyện quân không một đội", "Tuấn kiệt như sao buổi sớm-Nhân tài như lá mùa thu", "lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều"…Nhưng nghĩa quân có người lãnh tụ Lê Lợi sáng suốt, bền chí, yêu nước "Ngẫm thù lớn há đội trời chung-Căm giặc nước thề không cùng sống", biết đoàn kết lòng dân "Sĩ tốt một lòng phụ tử-Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào", dùng chiến thuật phù hợp nên nghĩa quân Lam Sơn ngày một trưởng thành "Sĩ khí đã hăng, quân thanh càng mạnh"và ngày càng chiến thắng giòn giã, vang dội "Đánh một trận sạch không kình ngạc-Đánh hai trận tan tác chim muông", giặc Minh thì liên tiếp thất bại, thất bại sau lại càng thảm hại hơn thất bại trước, mỗi tên tướng giặc bại trận lại có vết nhục nhã riêng kẻ treo cổ tự vẫn, kẻ quỳ gối dâng tờ tạ tội, kẻ bị bêu đầu… Đoạn văn thứ ba của bài cáo cũng ca ngợi lòng nhân đạo, chuộng hòa bình của nhân dân, dân tộc ta, tha sống cho quân giặc đã đầu hàng, lại cấp cho chúng phương tiện, lương thảo về nước. Đoạn cuối của bài cáo đã tuyên bố trịnh trọng về việc kết thúc chiến tranh, khẳng định nền độc lập, hòa bình vững bền của đất nước, thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Bài cáo có sự kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa yếu tố chính luận sắc bén với yếu tố văn chương truyền cảm, kết hợp giữa lí luận chặt chẽ và hình tượng nghệ thuật sinh động. Cảm hứng nổi bật xuyên suốt tác phẩm là cảm hứng anh hùng ca hào hùng sôi nổi, mãnh liệt. Giọng điệu của bài cáo rất đa dạng, khi tự hào về truyền thống văn hóa, anh hùng lâu đời của dân tộc, khi thì căm phẫn sục sôi trước tội ác của kẻ thù, khi thống thiết xót thương trước nỗi đau lầm than của nhân dân, khi lo lắng trước những khó khăn của cuộc kháng chiến, khi hào hùng ngợi ca chiến thắng, khi trịnh trọng tuyên bố độc lập của dân tộc, đất nước. "Đại cáo bình Ngô" của Nguyễn Trãi là bản anh hùng ca ca ngợi chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta thế kỉ XV. Tác phẩm vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị văn học, không chỉ lưu giữ những sự kiện lịch sử mà còn lưu truyền lòng yêu nước tự hào dân tộc đến các thế hệ người Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam ngày nay đều hào sảng trước những câu văn hùng hồn "Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có…" Thuyết minh về Bình Ngô Đại Cáo - Mẫu 2 Nguyễn Trãi là một tác gia lớn của nền văn học trung đại Việt Nam. Ông đã để lại cho hậu thế một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ. Nhưng dường văn chương của ông dường như cũng chịu chung số phận như con người – phải trải qua bao phen thăng trầm chìm nổi. Trong đó, “Bình Ngô đại cáo” - viết sau đại thắng năm 1427, là bản tổng kết xuất sắc quá trình kháng chiến mười năm, không chỉ thể hiện tinh thần yêu nước bảo vệ độc lập, truyền thống bất khuất chống ngoại xâm, còn đặc biệt nêu cao “chí nhân, đại nghĩa” như một giá trị văn hóa ngời sáng của dân tộc Đại Việt. Với bút lực hào hùng và lời văn truyền cảm mạnh mẽ, tác phẩm đã trở thành một áng “thiên cổ hùng văn”. Bình Ngô đại cáo là thông báo bằng văn bản và được viết theo bằng văn biền ngẫu, theo thể cáo – thường dùng để thông báo sự kiện quan trọng của quốc gia, dân tộc. Nguyên tác được viết bằng chữ Hán, và được các học giả như Ngô Tất Tố, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim dịch sang tiếng Việt ngày nay. Tác phẩm có giữ một vị trí quan trọng về phương diện lịch sử lẫn phương diện văn học. Ức Trai đã thừa lệnh Lê Lợi viết tác phẩm vào khoảng đầu năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải ký hòa ước, rút quân về nước, nước ta bảo toàn được nền độc lập, hòa bình. Nhan đề cho thấy đây là bài cáo trọng đại tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô -một tên gọi hàm ý khinh bỉ căm thù giặc Minh xâm lược. Bài cáo có bố cục chặt chẽ mạch lạc, khắc họa, lên án, tố cáo tội ác của giặc và khẳng định chủ quyền dân tộc. Chính vì vậy, bài cáo xoay quanh các cảm hứng chính sau đây cảm hứng về chính nghĩa nhận thức sâu sắc về nguyên lí chính nghĩa và thái độ khẳng định sức mạnh của nguyên lý đó; cảm hứng căm thù giặc xâm lược; cảm hứng về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, về tinh thần quyết chiến quyết thắng của nhân dân Đại Việt; cảm hứng độc lập dân tộc và tương lai đất nước. Với bốn cảm hứng đó, bài cáo thường được chia thành bốn phần tương đương. Phần 1 là nêu luận đề chính nghĩa Từ đầu đến “chứng cớ còn ghi”. Phần 2 là lên tiếng tố cáo tội ác, vạch trần âm mưu xâm lược Đại Việt với cớ phù Trần diệt Hồ của giặc tiếp theo phần 1 cho đến “Ai bảo thần dân chịu được”. Phần 3 là quá trình kháng chiến và sự thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn tiếp theo phần 2 đến “cũng là chưa thấy xưa nay”. Phần còn lại - phần 4 là phần nêu ra bài học lịch sử và sự khẳng định chính nghĩa sẽ thắng thế lực phi nghĩa, bất nhân. Mở đầu Bình Ngô đại cáo, tác giả Nguyễn Trãi đã nêu nguyên lí chính nghĩa làm chỗ dựa, làm nền tảng xác đáng để triển khai toàn bộ nội dung bài cáo. Tiếp thu từ tinh thần Nho giáo cùng với sự phát triển nội dung nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã nêu ra một luận đề có tính dân tộc “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” Với Nguyễn Trãi, việc trước hết là “trừ bạo” để nhân dân có được một cuộc sống yên ổn, ấm no, hạnh phúc. Ông cho rằng nếu muốn trị vì thiên hạ thì việc phải nghĩ đến đầu tiên chính là “nhân nghĩa”. Dân tộc ta chiến đấu chống xâm lược là nhân nghĩa, là phù hợp với nguyên lí chính nghĩa. Sau đó, tác giả nêu lên chân lý khách quan về sự tồn tại độc lập của nước Đại Việt, sự tồn tại đó như có cơ sở chắc chắn từ tháng ngày lịch sử “Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác” Ở phần 2 – cảm hứng căm thù giặc xâm lược, Nguyễn Trãi đã thể hiện lòng uất hận sục sôi, viết nên một bản cáo trạng đanh thép với một trình tự tư duy logic vạch trần âm mưu xâm lược, lên án chủ trương cai trị thâm độc, tố cáo mạnh mẽ những hành động tội ác. Qua việc phân tích luận điệu bịp bợm “phù Trần diệt Hồ”, tác giả đi sâu những việc làm phi nhân, diệt chủng “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” Tội ác của chúng được ghi lại bằng cái vô cùng, vô hạn “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa hết mùi” Ở phần 3, với nguồn cảm hứng dồi dào, phong phú, Nguyễn Trãi đã khắc họa lại quá trình gian nan, vất vả của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Chính những gian khổ ngày đầu đã dẫn đến thắng lợi vẻ vang về sau. Cảm hứng anh hùng ca bao trùm toàn bộ đoạn trích. Những chiến công thần tích được miêu tả một cách dồn dập. Nhạc điệu trong câu sảng khoái, hào hùng như sóng triều dâng “Gươm mài đá, đá núi cũng mòn Voi uống nước, nước sông cũng phải cạn. Đánh một trận, sạch không kình ngạc Đánh hai trận, tan tác chim muông” Và ở phần 4 – phần kết thúc, Nguyễn Trãi đã không giấu được niềm vui chung của dân tộc, thay lời Lê Lợi trịnh trọng tuyên bố nền độc lập lâu dài “Xã tắc từ đây vững bền Giang sơn từ đây đổi mới Kiền khôn bĩ rồi lại thái Nhật nguyệt hối rồi lại minh” Từ đó, ta thấy được viễn cảnh huy hoàng, tươi sáng của non sông xã tắc. Hiện thực hôm nay chính là nhờ những ngày tháng đau thương của quá khứ “Muôn thuở thái bình vững chắc”. Lời kết thúc “Xa gần bá cáo/ Ai nấy đều hay” đã sẻ chia sự vui mừng, niềm tự hào và niềm tin về ngày mai, về tương lai đất nước. Bài cáo đã thể hiện thành công những đặc sắc về thể loại. Bên cạnh đó, giọng điệu thay đổi linh hoạt trong mỗi phần, khi cao tràn uất hận, khi hào hùng dữ dội, khi cuồn cuộn như sóng triều dâng trên đề tài lịch sử - văn học đã để lại những ấn tượng sâu sắc cho người đọc. Sự am hiểu hơn người của Nguyễn Trãi về lịch sử, về điển cố, điển tích đã mang lại tính thuyết phục, hấp dẫn hơn cho tác phẩm. “Bình Ngô đại cáo” từ khi ra đời đã được xem làm một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, vừa tố cáo tội ác của giặc Minh vừa khẳng định được độc lập chủ quyền dân tộc. Đã qua bao thăng trầm biến đổi nhưng giá trị của “Bình Ngô đại cáo” vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay và Nguyễn Trãi – nhà quân sự tài ba, nhà chính trị lỗi thời, nhà thơ, nhà văn xuất sắc sẽ mãi mãi được khắc ghi trong lòng mỗi người con nước Việt. Thuyết minh về Chuyện chức phán sự đền tản viên Dàn ý thuyết minh về Chuyện chức phán sự đền tản viên I. Mở bài - Giới thiệu tác phẩm. II. Thân bài a. Tác giả - Tác giả Nguyễn Dữ, có người gọi là Nguyễn Dư hoặc Nguyễn Tự, chưa rõ năm sinh năm mất, sống vào khoảng đầu thế kỷ XVI, quê ở tỉnh Hải Dương. - Ông được xem là người đã đưa khái niệm "truyền kỳ" tiến vào văn học của nước ta. - Để lại duy nhất tác phẩm Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyền kỳ khác nhau. b. Khái niệm truyền kỳ - Các tác phẩm văn xuôi trung đại có các yếu tố hoang đường kì ảo. Ở đó có sự tương giao giữa thế giới con người với cõi âm, cõi tiên với sự xuất hiện của thánh thần, ma quỷ làm tăng sức hấp dẫn của tác phẩm, đồng thời góp phần phản ánh các nội dung cốt lõi trong quan niệm của tác giả. c. Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục - Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục là một tập truyện gồm có 20 truyện khác nhau được viết bằng chữ Hán chứa nhiều yếu tố hoang đường kì ảo, ra đời vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVI. - Nội dung chính của các truyện trong Truyền Kỳ Mạn Lục là vạch trần hiện thực xã hội phong kiến đương thời thối nát, cảm thông cho số phận bi thảm của những con người nhỏ bé trong xã hội, đặc biệt là người phụ nữ. Đồng thời đề cao vẻ đẹp phẩm cách, đạo đức, trí tuệ của con người, thể hiện sự ủng hộ quan niệm "lánh đục về trong" của cách danh sĩ đường thời, cũng phản ánh ước mơ, niềm tin của nhân dân về chân lý cái thiện luôn chiến thắng cái ác. d. Tóm tắt Chuyện chức phán sự đền Tản Viên Tự tóm tắt. e. Nội dung cốt lõi của tác phẩm * Sự kiên định chính nghĩa của nhân vật Ngô Tử Văn - Thể hiện trong thái độ và cách hành động của chàng khi đốt đền của yêu quái, trong việc chàng đối mặt với lời đe dọa của tên ác thần. - Thái độ bình tĩnh của chàng khi bị bắt về cõi âm ti, với sự xuất hiện của các loài quỷ nanh ác, không gian rùng rợn ghê sợ. - Sự chính trực, ngay thẳng, dũng cảm thể hiện trong việc chàng đấu tranh, minh oan cho bản thân trước mặt Diêm Vương. - Kết quả Giành được chiến thắng, mang lại sự yên ổn cho nhân dân, giải oan cho bản thân, lấy lại ngôi đền cho Thổ thần và được tiến cử chức phán sự đền Tản Viên, trở thành tiên. => Khẳng định niềm tin chính nhất định sẽ thắng tà. Mặt khác nhân vật Ngô Tử Văn còn đại diện cho anh tài đất Việt giành chiến thắng trước kẻ thù xâm lược, nêu cao tinh thần dân tộc, sự anh dũng, mạnh mẽ của nhân dân ta trong quá trình chống giặc ngoại xâm, chống lại cái ác cái xấu. * Ngụ ý phê phán - Hồn ma tên tướng giặc lúc sống làm quân xâm lược lúc chết đi lại làm yêu quái quấy nhiễu dân lành. Từ đầu tới cuối lên mang trong mình dã tâm xâm lược, đáng phải nhận sự trừng trị, tiêu diệt. - Phản ánh sự bất công đầy rẫy trong xã hội phong kiến thối nát, thông qua chuyện tên tướng giặc hối lộ thánh thần, còn lực lượng thực thi công lý như Diêm Vương lại bị che mắt. f. Nghệ thuật - Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, mở đầu bằng tình tiết khác lạ, xây dựng cao trào truyện đầy kịch tính lô-gíc, với các nút thắt, và cách giải quyết hợp lý, làm thỏa mãn người đọc. - Yếu tố kỳ ảo hoang đường được đưa vào một cách khéo léo làm nổi bật chủ đề, nội dung câu chuyện, đồng thời khắc họa rõ ràng tính cách của nhân vật. III. Kết bài - Nêu tổng kết. Thuyết minh về Chuyện chức phán sự đền tản viên Trong kho tàng văn học Việt Nam, có rất nhiều tên tuổi nổi tiếng. Một trong những tác giả đã trở thành niềm tự hào của cả thời kỳ văn học là Nguyễn Dữ. Tên tuổi của ông gắn liền với danh tiếng của "thiên cổ kỳ bút" “Truyền kỳ mạn lục". Trong đó “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là tác phẩm đặc sắc, ca ngợi tính cách dũng cảm, kiên cường, chính trực, dám chống lại cái ác đến cùng, trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn - một trí thức nước Việt. “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là tác phẩm thuộc thể văn xuôi truyền kỳ, viết bằng chữ Hán. Văn xuôi truyền kỳ là thể loại văn học dùng những yếu tố kì ảo hoang đường để phản ánh hiện thực cuộc sống. Nhân vật trong bộ truyền kỳ rất đa dạng, gồm cả người, ma quỷ, thần thánh,... có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có thể xâm nhập thế giới của nhau. Bộ truyện “Truyền kì mạn lục” ra đời vào khoảng thế kỉ XVI, thời điểm xã hội phong kiến Việt Nam đang trong tình trạng suy thoái, khủng hoảng, nhân dân bất bình với tầng lớp thống trị, nhiều nho sĩ rơi vào tâm trạng hụt hẫng, nuối tiếc cho thời thịnh trị dưới sự cai trị của vua Lê Thánh Tông. Trong khoảng thời gian cái quan về ở ẩn, Nguyễn Dữ đã sáng tác bộ truyện này vừa để phản ánh tình trạng xã hội, vừa để bộc lộ quan điểm sống và tấm lòng của mình với cuộc đời. Nội dung truyện kể về nhân vật chính Ngô Tử Văn. Ngô Tử Văn vốn là một kẻ sĩ khảng khái, chính trực. Trong làng nơi chàng ở có một ngôi đền vốn rất thiêng. Nhưng từ khi có một tên tướng giặc nhà Minh tử trận ở gần đền, hồn của hắn bắt đầu làm yêu làm quái trong dân gian, làm hại nhân dân. Tức giận, mặc cho lời ngăn cản của dân làng,Tử Văn châm lửa đốt đền để trừ hại cho dân. Sau khi đốt đền, Tử Văn bắt đầu lên cơn sốt. Trong khi sốt mê man, chàng thấy tên hung thần đến đòi làm trả lại ngôi đền và đe dọa sẽ bắt Tử Văn xuống âm phủ để cho Diêm Vương trị tội. Nhưng đến chiều tối, Thổ thần đến bày tỏ thái độ cảm phục trước hành động dũng cảm của Tử Văn. Chàng được Thổ thần mách bảo về tung tích và tội ác của tên hung thần, đồng thời chỉ dẫn cách đối phó. Đến đêm, khi bệnh nặng thêm, Tử Văn thấy hai tên quỷ sứ đến bắt chàng xuống âm phủ. Trước mặt Diêm Vương, Tử Văn đã tố cáo tội ác của tên hung thần với đầy đủ chứng cứ. Cuối cùng, công lý được khôi phục, Diêm Vương trừng trị tên hung thần đem nhốt vào ngục Cửu U, cho Thổ thần được phục chức, sai lính đưa Tử Văn về trần gian nghĩa là Tử Văn được sống lại. Một tháng sau, Tử Văn thấy Thổ thần đến cảm ơn. Để đền ơn nghĩa, Thổ thần đã tiến cử Tử Văn giữ chức phán sự đền Tản Viên. Qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng khi chống lại cái ác trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Nguyễn Dữ đã vạch bộ mặt gian tà của những kẻ quen "chước dối lừa, thích làm trò thảm ngược”. Ông lên án bộ phận quan lại đương thời, tố cao mạnh mẽ hiện thực “rễ ác mọ lan, khó lòng lay động” mà bênh vực cho kẻ gian tà và hiện thực của xã hội phong kiến lúc bấy giờ có quá nhiều kẻ hữu danh vô thực, lợi dụng địa vị, quyền thế làm điều bất chính. Truyện kết thúc có hậu, thể hiện truyền thống nhân đạo của nhân dân ta, tà không thể thắng chính, cái thiện chắc chắn sẽ chiến thắng cái ác. Về nghệ thuật, Nguyễn Dữ đã kết hợp khéo léo yếu tố ảo và thực trong truyện để truyền tải nội dung. Thế giới âm cung với những hồn ma, bóng quỷ, người chết đi sống lại từ dương gian xuống địa phủ, từ cõi âm lại về cõi dương làm nên yếu tố kỳ ảo cho câu chuyện. Nhưng đồng thời, tác giả dẫn họ tên, quê quán và thời gian, địa điểm diễn ra sự việc một cách cụ thể, đưa yếu tố thực đan xen yếu tố kỳ ảo. Kỳ ảo và hiện thực cùng kết hợp với nhau khiến câu chuyện vừa ly kỳ, hấp dẫn, vừa mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Bên cạnh đó, với cốt truyện giàu kịch tính, cách xây dựng nhân vật sắc nét, ngôn ngữ kể chuyện trau chuốt, súc tích, truyện đã ca ngợi nhân vật Ngô Tử Văn, một trí thức nước Việt khảng khái, nhân cách cứng cỏi, cao đẹp, qua đó bộc lộ niềm tin vào công lý, vào việc chính thắng tà. Với những giá trị đó, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên đá trở thành một tác phẩm nổi bật trong thời kỳ văn học trung đại Việt Nam, góp phần làm nên tên tuổi Nguyễn Dữ. Để rồi rất nhiều năm sau, tác phẩm ấy vẫn còn nguyên giá trị. 👉 Qua các nội dung trên tôi đã lần lượt chia sẻ đến một cách chi tiết nhất giúp bạn có thể viết được một đoạn văn mở bài hay. Chúc các bạn ôn tập đạt được kết quả tốt trong kì thi sắp tới.

tác phẩm lớp 10